Chương 199 — Bài học đầu tiên
Lưỡi Đao Bình Minh Trang 1 / 2
"Tuân thủ thời gian" vốn là đặc điểm và đặc quyền của quý tộc, bởi chỉ có quý tộc mới nắm giữ công cụ cùng phương pháp tính toán thời gian chính xác – dù là đồng hồ ma pháp hay đồng hồ cơ khí truyền từ vương quốc người lùn, đều không phải thứ dân thường có thể sở hữu. Vì thế, quý tộc cũng coi "tuân thủ thời gian" là một phần của thượng lưu xã hội, biến nó thành lễ nghi và quy củ; còn bình dân thì đơn giản dựa vào mặt trời và tinh tượng để phỏng đoán thời gian, rồi căn cứ vào đó sắp xếp hoạt động sản xuất của mình. Điều này ở bất kỳ lãnh địa quý tộc nào ngoài Cecil đều là lẽ thường.
Thế nhưng tại Cecil, cuộc sống của mọi người đều tuân thủ "thời gian" một cách nghiêm ngặt: mấy giờ mấy khắc bắt đầu làm việc, mấy giờ mấy khắc tan ca, mấy giờ mấy khắc nhà ăn mở cửa, mấy giờ mấy khắc trường đêm khai giảng – tất cả đều có mốc thời gian chính xác, từ quan lại trong lãnh địa cho tới thường dân đều như vậy.
Đây là thay đổi do Cao Dương mang đến, là sự thay đổi nhằm xoay chuyển lối sản xuất hỗn loạn, nguyên thủy và kém hiệu quả kia. Chỉ có thời khóa biểu chính xác mới bảo đảm nhà xưởng vận hành thuận lợi, chỉ có thời khóa biểu chính xác mới khiến người ta ý thức được tầm quan trọng của hiệu suất. Ban đầu, nhiều bình dân khá khó hiểu trước yêu cầu này, chỉ vì uy vọng to lớn của lãnh chúa mà họ mới mơ mơ hồ hồ tuân theo quy củ mới lập; nhưng đến nay, hai chữ "đúng giờ" đã trở thành một từ không còn xa lạ trên lãnh địa, thậm chí ngay cả trẻ con cũng hiểu được sự cần thiết của việc đúng giờ.
Bởi chúng phải đến trường đúng giờ, đến sớm hơn người lớn, học lâu hơn và bị yêu cầu nghiêm khắc hơn.
Cao Dương tạm thời chưa thi hành trường học toàn thời gian, nên hiện nay ban ngày lũ trẻ Cecil dành một nửa thời gian ở nhà phụ giúp cha mẹ làm việc; sau bữa trưa, chúng bắt buộc phải đến "Học viện Phổ thông Cecil" ở phía nam lãnh địa trình diện.
Đây là một ngôi trường mới tinh, được xây bằng gạch ngói và xi măng; tòa nhà chính của nó là công trình bề thế nhất, diện tích lớn nhất trên lãnh địa, chỉ sau các nhà xưởng. Trên quảng trường trường còn tung bay lá cờ của lãnh địa Cecil, trên tường bao in huy hiệu Cecil và huy hiệu An Su to lớn uy nghi. Cao Dương tin chắc rằng ý thức vinh dự và cảm giác quy thuộc phải được bồi dưỡng từ nhỏ; so với người lớn đã cố định thế giới quan, việc khiến trẻ em sớm hình thành nhận thức ấy còn quan trọng hơn. Hơn nữa, biểu tượng trường học rõ ràng và uy nghi cũng giúp tăng thêm sự tích cực của lãnh dân đối với việc "nhập học": được tiếp nhận nền giáo dục do lãnh chúa sắp đặt trong một cơ sở bề thế như thế, trong lòng nhiều người sẽ trở thành một việc rất vinh quang.
Dẫu họ không cảm nhận được vinh quang, Cao Dương cũng phải rót vào đầu họ tư tưởng rằng làm vậy là rất vinh quang.
Trường đêm của người lớn bắt đầu sau khi tan ca lúc chạng vạng, còn lũ trẻ thì từ buổi chiều đã đến trường học bài. Chúng học tại đây cho đến khi mặt trời lặn, rồi cùng các thầy cô ăn một bữa tối miễn phí (bữa tối này cũng là một trong những động lực khiến nhiều người lớn sẵn lòng đưa con đến trường), sau bữa tối lại tiếp tục học, cho đến khi khóa trường đêm của người lớn kết thúc thì cùng cha mẹ tan học về nhà.
Tư duy người lớn đã cố định, tiếp thu tri thức mới đã trở thành chuyện khá khó khăn, nên yêu cầu của Cao Dương đối với phần lớn công nhân trưởng thành trên lãnh địa chỉ là biết chữ biết số, tối thiểu trong nhà xưởng có thể đọc hiểu hướng dẫn vận hành trên máy móc. Nhưng trẻ em lại là "tờ giấy trắng" quý giá, chúng chưa kịp bị cuộc sống mài cho chai lì, vẫn còn có thể tiếp nhận tư tưởng và tri thức mới một cách linh hoạt, nên Cao Dương rất coi trọng việc giáo dục trẻ em.
Vào thuở lập lãnh địa, trong thị trấn Huyền Khuyết hầu như không có trẻ em, bởi những người chạy nạn khỏi Cecil cũ khi ấy cơ bản đều là người lớn khỏe mạnh. Phụ nữ và trẻ nhỏ tuy từng được ưu tiên sơ tán, nhưng trong môi trường bị thủy triều ma quỷ xâm thực, hơn nửa số trẻ yếu ớt đã không sống nổi. Phải đến sau vài lần mở rộng dân số, Cecil mới cuối cùng có lại thế hệ vị thành niên: có những đứa trẻ là nô lệ bị bán đến cùng cha mẹ (nếu không nhờ chế độ giải phóng của Cao Dương, những đứa trẻ này và con cháu chúng sẽ đời đời là nô lệ), cũng có những kẻ vô gia cư được Quỳnh và Tom cứu về. Những đứa trẻ ấy dẫu vẫn phải ở cùng cha mẹ trong doanh trại đệm, hằng ngày vẫn được sắp xếp đến học viện học bài.
Hôm nay, chúng sẽ có thêm một môn học mới đặc biệt.
Santis Sade đang căng thẳng chỉnh lại y phục trong phòng giáo viên. Căn phòng rất mộc mạc, nhưng có một tấm gương cao bằng người, phía trên gương dán một câu châm ngôn do lãnh chúa tặng cho giáo viên học viện: "Lấy thân làm gương".
Santis sắp xếp lại chiếc pháp bào hơi cũ kỹ cho ngay ngắn, có chút vụng về vuốt phẳng những nếp nhăn trên áo. Chàng nhìn thấy câu châm ngôn phía trên gương: lời lãnh chúa hàm chứa trí tuệ, nhưng chàng vẫn chưa hiểu lắm vì sao câu ấy lại xuất hiện ở đây. Chỉ có điều, so với việc hiểu câu ấy, chàng càng lo liệu mình có thể ứng phó trót lọt bài học đầu tiên này hay không.
Chàng sắp đi dạy một lũ con em bần dân, khiến chúng học những tri thức mà ngay cả con cái thương nhân giàu có và kỵ sĩ cũng chưa chắc tiếp thu nổi – việc này thật sự làm được sao?
Chàng từng làm gia sư cho vài thương nhân hoặc tiểu quý tộc, con cái những người giàu có ấy ít nhiều cũng coi là "thượng đẳng nhân tương lai có giáo dưỡng", vậy mà dạy chúng đọc sách vẫn là một việc khổ sai. Giờ đây chàng phải đối mặt với một lũ con em nông nô, nô công, nô lệ khế ước và tự do dân – vị thuật sư cấp hai trẻ tuổi này quả thật không dám tưởng tượng mình phải mở bài học đầu tiên ấy thế nào.
Nhưng tiếng chuông vào học đã sắp vang, qua khung cửa sổ, chàng thấy ông lão gù phụ trách đánh chuông đã xách chiếc búa nhỏ bước về phía quả chuông đồng treo trong sân. Lúc này mà còn do dự thì chẳng có ý nghĩa gì.
Santis Sade lần cuối chỉnh lại cổ áo, rồi với vẻ mặt quyết tuyệt cầm lấy bản nháp và giáo án đã chuẩn bị sẵn bên cạnh, đẩy cửa phòng giáo viên, sải bước lớn tiến về phía lớp học của lũ trẻ.
Đẩy cửa ra, chàng thấy hai học đồ đang quét dọn ngơ ngác nhìn mình – chàng đi nhầm cửa rồi.
"Xin… xin lỗi!" Vị thuật sư trẻ tuổi hoàn toàn không có vẻ cao ngạo và khí thế của một thi pháp giả chuyên nghiệp, chàng luống cuống xin lỗi, mặt đỏ bừng vì ngượng ngùng, chưa đợi hai học đồ phản ứng, chàng đã như chạy trốn trở lại hành lang.
Chuông vào học đã vang, vậy mà Santis liên tiếp đẩy nhầm hai cửa trên hành lang mới tìm được lớp học mình phải dạy. Chàng gần như hoảng loạn đẩy cánh cửa ấy ra, đến khi thấy bên trong là một phòng đầy lũ trẻ bẩn thỉu, mặc áo vá, tuổi tác chênh lệch nhau, ồn ào lộn xộn, chàng mới cuối cùng thở phào nhẹ nhõm.
Lũ trẻ đến lớp ồn ào náo nhiệt; dẫu không phải lần đầu vào trường, hai chữ "quy củ" vẫn chưa vào nổi đầu chúng. Những đứa trẻ từ nơi khác nhau, tuổi tác khác nhau này biến lớp học thành nơi tụ họp, ầm ĩ thành một mớ bòng bong. Cha mẹ chúng có thể là nông nô, tự do dân, nô lệ, thậm chí lưu vong giả, nhưng bản thân chúng thì chưa có khái niệm ấy; tất cả lũ trẻ trộn lẫn vào nhau, hoàn toàn thành một nồi cháo.
Thầy dạy môn phổ thông thường ngày có thể dùng giọng to để trấn áp lũ trẻ này, nhưng Santis Sade lại không có giọng to như thế (cùng với dũng khí tương ứng với giọng to). Lúc chàng vừa đẩy cửa bước vào, lớp học quả thật im lặng trong chốc lát, nhưng đó chỉ là lũ trẻ tạm thời ngừng ồn ào vì tò mò mà thôi; rất nhanh, tiếng ồn lại nổi lên, lần này tiêu điểm bàn tán của lũ trẻ chuyển từ bữa tối và bùn đất sang chiếc pháp bào cũ kỹ trên người Santis.
"Các người xem kìa! Thầy giáo mới!"
"Thầy giáo mới mặc pháp bào, nhất định là pháp bào!"
"Thầy giáo mới là một vị pháp sư lão gia! Thầy ấy nhất định có thể biến ra một con rồng…"
"Suỵt, thầy ấy mà giận thì ngươi chết chắc!"
"Pháp bào ấy cũ quá đi…"